LinkedIn Case Study
Tìm hiểu vì sao một số người ít đăng bài trên LinkedIn và đề xuất giải pháp giúp họ chia sẻ, giới thiệu bản thân thoải mái hơn.

1. Hồ sơ được chăm chút, nhưng ít đăng bài
Với mình, LinkedIn chủ yếu để tìm việc, thỉnh thoảng thì cập nhật hồ sơ, thêm kết nối và… soi người quen. Thế nên tab Hoạt động của mình trống trơn vì không đăng bài nào cả. Và không chỉ có mình, khi nhìn ra xung quanh, có nhiều người cũng chăm chút cho hồ sơ nhưng lại hiếm khi đăng bài. Điều đó khiến mình tự hỏi:
Điều gì khiến một người sẵn sàng giới thiệu kinh nghiệm, học vấn, chứng chỉ… trên hồ sơ, nhưng lại ít chia sẻ qua bài đăng?

Ảnh 1: Hồ sơ và bài đăng: Hai cách hiện diện
Đó là khởi đầu cho dự án cá nhân này. Mình nghiên cứu tài liệu học thuật, thu thập thảo luận cộng đồng, phỏng vấn bốn người có tài khoản LinkedIn nhưng ít đăng bài và phân tích ba luồng: Giới thiệu, Đăng bài, Thông báo. Mẫu phỏng vấn được chọn thuận tiện, phục vụ nghiên cứu khám phá và không đại diện cho toàn bộ người dùng Việt.
Dự án dừng ở hai concept có thiết kế giao diện minh họa, chưa kiểm thử với người dùng và chưa có số liệu về hiệu quả. Nhân vật, nội dung và số liệu trong các concept được dùng để minh họa thiết kế.
Chi tiết bổ sung
Mỗi nguồn đóng góp điều gì?
Nguồn | Vai trò trong dự án | Giới hạn khi diễn giải |
|---|---|---|
Tài liệu học thuật và tài liệu nền | Gợi câu hỏi về thể diện, so sánh và cách tự thể hiện. | Khác nhau về đối tượng, bối cảnh và phương pháp; không áp trực tiếp kết quả lên người dùng Việt nói chung. |
Bài đăng và bình luận cộng đồng | Cung cấp các tình huống sử dụng và cảm nhận để đối chiếu. | Ý kiến nổi bật trong tư liệu không cho biết trải nghiệm đó phổ biến đến đâu. |
Phỏng vấn | Tìm hiểu cách dùng LinkedIn, cân nhắc đăng bài và phản ứng với ý tưởng ban đầu. | Mẫu thuận tiện, thiếu nhóm đăng bài đều đặn để so sánh. |
Phân tích luồng sử dụng | Xác định lựa chọn trên giao diện và vị trí có thể can thiệp. | Quan sát từ bên ngoài, không có dữ liệu nội bộ về thuật toán hoặc phân phối thông báo. |
Các nguồn được dùng để bổ sung và đối chiếu với nhau. Một ý xuất hiện trong tài liệu hoặc thảo luận cộng đồng giúp đặt câu hỏi cho phỏng vấn, nhưng chưa đủ để xác nhận đó là vấn đề của người dùng trong dự án.
Bối cảnh và cách ghi nhận
Ba trong bốn người được phỏng vấn dùng LinkedIn để xem hoặc tìm việc. Những mục đích khác gồm theo dõi người hoặc công ty, đọc bài và cập nhật hồ sơ. Một người chưa từng nghĩ tới việc đăng bài, trong khi một người đã đăng khoảng ba tháng trước. Một người có thể có nhiều mục đích. Nhóm ít đăng vì thế vẫn có những trải nghiệm khác nhau.
Với cộng đồng, mình chọn các tình huống tiêu biểu để tìm hiểu thêm, không dùng số bình luận để ước lượng tỷ lệ người có cùng trải nghiệm. Tư liệu cộng đồng được phân biệt với dữ liệu từ bốn người tham gia phỏng vấn.
Ghi chép giao diện thuộc giai đoạn nghiên cứu và chỉ bao quát ba luồng đã nêu, không phải bản kiểm kê toàn bộ tính năng LinkedIn tại thời điểm công bố case. Tài liệu đối chiếu bổ sung khi biên tập cũng không được tính thành hoạt động nghiên cứu người dùng đã thực hiện.
2. Những phát hiện làm thay đổi hướng thiết kế
Việc ít đăng bài có thể có nhiều cách lý giải
Ban đầu, mình nghĩ các chuẩn mực văn hóa về tự thể hiện có thể khiến người dùng e ngại hoạt động công khai. Tài liệu học thuật về thể diện cung cấp thêm các góc nhìn về hình ảnh họ muốn giữ và bối cảnh bị đánh giá.¹ Nghiên cứu về tự thể hiện trên LinkedIn gợi thêm câu hỏi về vai trò của so sánh xã hội.² Những gợi ý này giúp mình đặt câu hỏi về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định đăng bài.
Trong tư liệu cộng đồng, một người viết trên LinkedIn kể rằng từng ngại chia sẻ bằng tiếng Việt vì hình dung nền tảng dành cho những người có công việc nổi bật, viết tiếng Anh tốt và đưa ra góc nhìn sâu sắc. Một bình luận trên TikTok lại mô tả việc cập nhật hồ sơ chỉ là để nhà tuyển dụng xem và không muốn chia sẻ thành bài đăng vì thấy những lời chúc nhận được giả tạo và sáo rỗng.
Hai ví dụ trên phản ánh các cách nhìn khác nhau xuất hiện trong tư liệu đã thu thập và gợi lên một điểm khác biệt cần tìm hiểu thêm:
Có người muốn chia sẻ nhưng còn ngại, có người chọn cách dùng LinkedIn phù hợp với họ.

Ảnh 2: Hai góc nhìn về việc ít đăng bài
Ở giai đoạn đầu, mình phác thảo hai hướng để đưa vào phỏng vấn: hỗ trợ chọn nội dung cho phần Giới thiệu và nhờ người quen góp ý trước khi đăng.
Chưa có đủ căn cứ để ưu tiên phần Giới thiệu
Ba trong bốn người được phỏng vấn đã điền phần Giới thiệu. Hai người muốn thử tính năng gợi ý vì tiện lợi nhưng phỏng vấn chưa ghi nhận khó khăn “có nhiều nội dung mà không biết chọn gì” như dự đoán. Hứng thú với một tính năng chưa đủ để xác nhận vấn đề cần giải quyết.
Hướng dẫn của LinkedIn cũng cho thấy nền tảng có hỗ trợ viết bằng AI cho một số người dùng Premium.³ Với căn cứ hiện có, mình chưa ưu tiên thiết kế lại phần Giới thiệu.
Thêm người góp ý có thể thêm phân vân
Ba trong bốn người được phỏng vấn không muốn thử nhờ người quen góp ý trước khi đăng. Ngoài lựa chọn dùng AI, một phản hồi khiến mình chú ý: góp ý có thể làm người viết chệch khỏi ý định ban đầu.
Mình quyết định dừng hướng này. Thêm người đọc trước khi đăng có thể đem lại sự tự tin cho người này, nhưng cũng có thể khiến người khác phân vân hơn.

Ảnh 3: Phản hồi về việc nhờ người quen góp ý trước khi đăng
Nỗi lo về trình độ mở ra hướng khác
Cũng trong quá trình phỏng vấn, có hai người kể rằng từng nghĩ tới việc viết bài về lĩnh vực của họ nhưng dừng lại vì thấy chưa đủ trình độ. Cả bốn đều liên hệ việc đăng bài với chia sẻ kiến thức chuyên môn. Dù vậy, lý do ít đăng còn có lười, không biết đăng gì hoặc thấy việc đó giả tạo. Không phải ai cũng muốn bắt đầu viết và đăng bài.
Từ đây, câu hỏi thiết kế được thu hẹp thành:
Làm thế nào để người ít đăng bài có thể chia sẻ kinh nghiệm hoặc đưa nội dung trong hồ sơ tới người khác theo cách họ thấy thoải mái?
Mình chọn phát triển hai hướng: Đổi mốc so sánh dành cho người muốn đăng nhưng còn e ngại; mục Explore thử đưa nội dung có sẵn trong hồ sơ tới người quan tâm. Đây là hai đề xuất cần kiểm chứng, đặc biệt là việc chủ hồ sơ có muốn nội dung được phân phối rộng hơn hay không.

Ảnh 4: Từ phát hiện đến lựa chọn thiết kế
Chi tiết bổ sung
Hai nghiên cứu được dùng để đặt câu hỏi
Thể diện thay đổi theo hình ảnh muốn giữ và hoàn cảnh bị đánh giá. Phạm Thị Hồng Nhung (2014) thu thập 129 tình huống mất mặt từ 53 người, rồi dùng mười tình huống điều chỉnh để phỏng vấn 20 người khác. Các phản ứng cho thấy thể diện có thể gắn với phẩm chất, vai trò hoặc tập thể; cùng một tình huống không khiến mọi người cảm thấy mất mặt như nhau.¹ Với case này, nghiên cứu giúp mình chú ý tới điều người dùng muốn thể hiện, người họ hình dung sẽ đọc và điều họ lo bị hiểu sai.
So sánh có liên hệ với cách tự thể hiện, nhưng chưa xác nhận tác dụng của ví dụ tương đồng. Luận văn của Thu Dang (2025) khảo sát 163 sinh viên quốc tế người Việt và 160 sinh viên Mỹ, đều sống tại Mỹ. Sự không rõ ràng về điều người khác mong đợi và xu hướng so sánh có liên hệ với biểu đạt không chân thực trên LinkedIn. Khái niệm này nói tới việc thể hiện suy nghĩ, cảm xúc khác với điều thực sự nghĩ hoặc cảm thấy, không đo độ xác thực của thành tích.²
Thang so sánh có cả việc tham khảo người trong hoàn cảnh tương tự. Điều đó gợi câu hỏi người dùng đang so sánh với ai và để làm gì. Tuy nhiên, khảo sát tại một thời điểm không chứng minh quan hệ nhân quả; kết quả trong bối cảnh sinh viên sống tại Mỹ cũng không thể đại diện cho quyết định đăng bài tại Việt Nam. Tác dụng của ví dụ tương đồng vẫn là giả thuyết thiết kế cần kiểm tra riêng.
Vì sao không dùng văn hóa như một lời giải chung?
Hofstede (2011) phân biệt các chiều văn hóa ở cấp quốc gia với khác biệt giữa cá nhân.⁴ Nghiên cứu tái xây dựng chỉ số chủ nghĩa cá nhân của Akaliyski và cộng sự (2026) còn cho thấy cách đo có thể làm thay đổi cách nhìn về khác biệt giữa các quốc gia.⁵ Vì vậy, điểm văn hóa chỉ giúp đặt bối cảnh; nó không cho biết một người cụ thể muốn chia sẻ điều gì hay có cần được hỗ trợ đăng bài không.
Những chi tiết làm rõ phản hồi phỏng vấn
Trong ba người đã điền phần Giới thiệu, một người tự viết theo định hướng công việc, một người giữ bản viết từ hai năm trước và một người dùng AI hỗ trợ. Người còn lại mới tạo tài khoản và chưa biết mục này tồn tại. Hai người muốn thử tính năng gợi ý vì tiện lợi, hai người muốn dùng AI khác. Phản hồi này chưa xác nhận khó khăn chọn nội dung mà hướng thiết kế ban đầu giả định.
Việc đã điền phần Giới thiệu cũng chưa cho biết toàn bộ hồ sơ hoàn chỉnh đến đâu; dự án không đánh giá mức này. Tương tự, cả bốn người nhận thấy lợi ích của đăng bài nhưng điều đó chưa đồng nghĩa họ có ý định đăng. Những khác biệt này giúp tránh suy từ một hành vi sang toàn bộ nhu cầu của người dùng.
Với phân tích nền tảng, mình ghi nhận các chỉ số sau khi đăng nhưng chưa biết chúng tạo áp lực với ai và lúc nào. Ghi chép chưa xác định thông báo được gửi tới những người nào; nỗi lo về người đọc cụ thể, như cấp trên, cũng chưa có tình huống phỏng vấn trực tiếp để xác nhận.
Cách thu hẹp danh mục ý tưởng
Sau quá trình brainstorm, mình gộp các ý tưởng gần giống nhau, sàng lọc theo mức phù hợp với vấn đề, tính khả thi kinh doanh và khác biệt với tính năng sẵn có. Sau đó, các hướng được so sánh về khả năng sử dụng và những đánh đổi cần làm rõ, trong đó có cách hiển thị danh tính.
Trong 3 hướng được chọn để phát triển sâu hơn, có 2 hướng đi tới thiết kế giao diện minh họa chính là 2 concept sẽ được trình bày lần lượt trong 2 chương tiếp theo. Concept còn lại, “Bắt đầu bằng tương tác” thì dừng lại ở mô tả do chưa đủ căn cứ và cơ sở để phát triển thêm. Quá trình này giúp chọn hướng để nghiên cứu tiếp, chưa phải đánh giá thực nghiệm hiệu quả của các concept.
3. Đổi mốc so sánh trước khi đăng bài
Cho người đang muốn viết thấy một ví dụ gần gũi hơn
Nỗi lo về việc chưa đủ trình độ dẫn tới giả thuyết:
Nếu người dùng đang lấy những người nổi bật làm mốc, ví dụ gần gũi hơn từ người có kinh nghiệm tương đồng có thể giúp họ nhìn khác đi về việc đăng bài.
Phỏng vấn chưa xác định họ thực sự tự so sánh bản thân với ai. Đây là điều cần làm rõ trước khi kiểm tra tác dụng của gợi ý.
Mình tập trung vào lúc người dùng đang cân nhắc bài đăng đầu tiên. Một thẻ trong bảng tin kể ngắn gọn về người có kinh nghiệm tương đồng vừa chia sẻ ghi chú về công việc và nhận được phản hồi. Người đọc có thể mở ô soạn hoặc đơn giản là lướt qua nó.

Ảnh 5: Ví dụ từ người có kinh nghiệm tương đồng trong bảng tin
Ưu tiên mức tương đồng, chấp nhận không hiển thị
Ví dụ được chọn theo mức kinh nghiệm và độ nổi bật: ưu tiên người có kinh nghiệm tương đồng, đã đăng bài nhưng không quá nổi bật. Thông tin hồ sơ chỉ là tín hiệu tham khảo, không phải phép đo năng lực. Khi thiếu trường hợp để làm ví dụ phù hợp, có thể dùng dữ liệu nhóm. Nếu cả hai đều không đủ thì thẻ sẽ không xuất hiện. Cách chọn này mới ở mức đề xuất, chưa được xây dựng thành thuật toán.
Phiên bản mặc định không hiện tên, ảnh hoặc liên kết bài gốc. Đổi lại, người đọc khó kiểm tra câu chuyện, còn người được nhắc vẫn có thể bị nhận ra trong ngành hẹp. Bên cạnh hai phiên bản mặc định và nhóm, còn một phiên bản khác có danh tính cụ thể (tên và ảnh) như hướng phát triển sau, với điều kiện người được giới thiệu đồng ý. Phiên bản này cần được kiểm tra thêm về độ tin cậy và áp lực so sánh có thể tạo ra.

Ảnh 6: Thẻ dùng dữ liệu nhóm và thẻ hiển thị danh tính
Gợi ý luôn có cách bỏ qua
Ngoài bảng tin, ví dụ tương đồng cũng có thể xuất hiện dưới dạng dải gợi ý trong màn soạn và kèm nút ẩn. Trên bảng tin, người dùng có thể giảm gợi ý hoặc chọn không quan tâm. Thiết kế cần phân biệt rõ việc ẩn gợi ý hiện tại với giảm những gợi ý tương tự về sau.

Ảnh 7: Gợi ý trong màn soạn bài và lựa chọn ẩn
Bước tiếp theo là kiểm tra xem ví dụ có đủ tương đồng và đáng tin không, người dùng có dễ bỏ qua hay cảm thấy bị thúc ép không. Việc mở ô soạn cần được đánh giá riêng với thực sự đăng bài và cảm nhận sau đó.
Chi tiết bổ sung
Tương đồng tới mức nào là đủ?
Mô hình đề xuất ưu tiên giữ mức kinh nghiệm tương đồng, thử mở sang ngành liền kề trước khi mở rộng khoảng kinh nghiệm. Câu chữ chỉ nêu tiêu chí thực sự tương đồng: nếu chỉ gần nhau về kinh nghiệm thì không gọi là cùng ngành.
Mình tạm loại kết nối trực tiếp khỏi nhóm tham chiếu để hạn chế áp lực so sánh với người quen. Đây là một đánh đổi cần kiểm tra, vì người quen cũng có thể tạo tin tưởng hơn một trường hợp xa lạ. Với thẻ dùng dữ liệu nhóm, số đông có thể giúp người đọc hình dung tình huống nhưng cũng có thể tạo cảm giác phải làm theo.
Khi nào nên gợi ý?
Phương án không dùng email hoặc thông báo đẩy, đồng thời dự kiến giảm tần suất khi gợi ý liên tục bị bỏ qua. Khoảng cách giữa các lần xuất hiện và cách xử lý lựa chọn không quan tâm vẫn cần được xác định qua kiểm thử.
Việc xem hồ sơ hoặc đọc nhiều chỉ cho biết người dùng có mặt trên nền tảng. Soạn rồi bỏ gần với ý định đăng hơn, nhưng chưa giải thích được lý do dừng. Nếu dùng những tín hiệu này để chọn thời điểm gợi ý, sản phẩm cần làm rõ dữ liệu được sử dụng và cách người dùng kiểm soát gợi ý.
Câu chữ cần khớp với dữ liệu tham chiếu
Mỗi ví dụ và con số cần có căn cứ từ đúng nhóm được nhắc tới. Một trường hợp nhận được phản hồi không đủ để nói rằng đa số người tương đồng đều được phản hồi. Đã có người đăng cũng chưa đủ để nói nhóm này chia sẻ thường xuyên.
Câu chữ cần mô tả điều đã xảy ra mà không hứa người đọc sẽ có trải nghiệm tương tự. Có phản hồi cũng chưa cho biết người đăng cảm thấy thế nào. Khi kiểm thử các phiên bản thẻ, mình sẽ xem người dùng hiểu “kinh nghiệm tương đồng” ra sao, có tin vào ví dụ không và liệu tên, ảnh hay con số có làm mốc so sánh trở nên nặng nề hơn không.
4. Đưa nội dung hồ sơ tới người quan tâm
Khám phá từ nội dung đã có
Explore bắt đầu từ một câu hỏi khác:
Nếu người dùng đã có dự án, kỹ năng, chứng chỉ… trên hồ sơ, liệu những nội dung ấy có thể đến với người quan tâm mà không cần viết thêm bài không?
Mình đề xuất một mục riêng để tìm và khám phá nội dung hồ sơ theo lĩnh vực. Các dạng nội dung khác nhau sẽ có cách hiển thị khác nhau. Chẳng hạn, thẻ dự án đặt tiêu đề và mô tả trước thông tin tác giả trong khi tên và ảnh vẫn hiện. Cách tổ chức này đưa nội dung công việc thành điểm bắt đầu, trước khi người đọc tìm hiểu thêm về người thực hiện.

Ảnh 8: Explore: Khám phá nội dung từ hồ sơ
Chủ hồ sơ chọn nội dung được phân phối
Đã công khai trên hồ sơ chưa có nghĩa muốn được giới thiệu ở nhiều nơi hơn.
Explore chỉ phân phối những mục đã công khai và được chủ hồ sơ chủ động chọn. Mặc định các lựa chọn đều tắt và có thể thay đổi về sau; tắt trên Explore không xóa nội dung khỏi hồ sơ hoặc chuyển nội dung thành riêng tư.

Ảnh 9: Chủ hồ sơ chọn nội dung hiển thị trên Explore
Giữ liên hệ trực tiếp, giới hạn tương tác công khai
Màn chi tiết giữ các hành động lưu, liên hệ và kết nối, nhưng không có ô bình luận. Lượt xem và lượt thích chỉ hiện số đếm, không mở danh sách người tương tác. Mục đích là giảm áp lực và giữ trao đổi trực tiếp. Đổi lại thì người đọc mất một cách đặt câu hỏi công khai để người khác cùng xem câu trả lời.

Ảnh 10: Thẻ dự án chi tiết
Giá trị phải đến từ cả hai phía
Nhà tuyển dụng là nhóm người đọc được ưu tiên trong đề xuất, nhưng dự án chưa nghiên cứu trực tiếp quy trình của họ. Cần tìm hiểu cả việc chủ hồ sơ có muốn tham gia lẫn việc nhà tuyển dụng có tìm được thông tin hữu ích hay không.
Một mục riêng cũng đòi hỏi người đọc tới thêm một nơi. Ít người bật hiển thị có thể khiến nội dung chưa đủ hấp dẫn. Ít người đọc cũng có thể khiến chủ hồ sơ khó thấy lý do tham gia. Đây là vấn đề cần kiểm chứng cùng giá trị sử dụng, không chỉ qua việc người dùng có tìm thấy nút bật hay không.
Chi tiết bổ sung
Vì sao chọn một mục riêng?
Trong quá trình phát triển, mình từng bỏ phương án không gian riêng vì lo cạnh tranh với bảng tin, rồi chuyển thành một chế độ trong bảng tin. Explore trở lại thành mục riêng khi trọng tâm chuyển sang khám phá nội dung hồ sơ và ưu tiên nhà tuyển dụng là nhóm người đọc chính.
Báo cáo thường niên năm tài chính 2025 của Microsoft mô tả các nguồn doanh thu LinkedIn từ tuyển dụng, tiếp thị, thuê bao Premium và bán hàng.¹⁰ Bối cảnh này giúp xem xét Explore cùng chi phí vận hành và ảnh hưởng tới những hoạt động hiện có. Để làm rõ giá trị khác biệt, bước đối chiếu tiếp theo là so sánh cách duyệt dự án, kỹ năng và lĩnh vực với công việc thực tế của người dùng LinkedIn Recruiter.
Nội dung công khai và danh tính người tương tác
Explore không ẩn danh chủ hồ sơ: tên và ảnh vẫn hiện cùng nội dung họ chọn phân phối. Việc không mở danh sách người xem hoặc thích chỉ giới hạn cách hiển thị danh tính người tương tác, không biến nội dung thành riêng tư.
Phần quản lý Explore cho phép chọn loại nội dung được phân phối, gồm dự án, học vấn, chứng chỉ, kỹ năng và nhận xét. Người dùng có thể quản lý từng nội dung về sau. Với liên hệ trực tiếp, chất lượng trao đổi cần được đánh giá từ cả người gửi lẫn người nhận.
Bắt đầu khi chưa có đủ nội dung và người đọc
Phương án ưu tiên là bắt đầu trong một ngành hẹp có đủ hồ sơ phù hợp, kết hợp thông tin kỹ năng tổng hợp để cung cấp nội dung khám phá khi ít người bật hiển thị cá nhân.
Thông tin nhóm cần thực sự ở mức tổng hợp. Nếu gắn tên hoặc ảnh đại diện, thiết kế đã quay lại hiển thị cá nhân và phải tuân theo lựa chọn của người đó. Nguồn dữ liệu, độ lớn nhóm và khả năng nhận diện cá nhân trong nhóm nhỏ cần được làm rõ trước khi thử nghiệm.
Tích hợp vào công cụ tuyển dụng là một hướng khác để tiếp cận người đọc sẵn có. Đổi lại, Explore sẽ phụ thuộc hơn vào sản phẩm đó và có thể phải thay đổi cách phục vụ chủ hồ sơ. Đây là phương án đối chiếu, chưa phải bước tiếp theo đã chốt.
Những áp lực có thể xuất hiện trở lại
Lựa chọn | Giá trị dự kiến | Điều cần quan sát |
|---|---|---|
Gom nhóm kỹ năng, chứng chỉ | Tạo ngữ cảnh khám phá nhiều hồ sơ. | Nhóm đông nhưng không giúp tìm người hoặc nội dung phù hợp. |
Đặt kỹ năng đã có cạnh kỹ năng phổ biến | Mở rộng khám phá trong ngành. | Người đọc hiểu các kỹ năng còn lại như danh sách mình đang thiếu. |
Giữ lượt xem, lượt thích và nội dung đang được chú ý | Cho biết nội dung nhận được quan tâm. | Tái tạo áp lực so sánh mà concept muốn hạn chế. |
5. Tổng kết
Dự án tạo ra hai concept có thiết kế giao diện, phục vụ hai lựa chọn khác nhau: hỗ trợ người muốn đăng bài và tạo ra nơi để khám phá nội dung hồ sơ có sẵn. Các giao diện đã cụ thể hóa cách gợi ý, quyền bỏ qua và lựa chọn phân phối. Tuy nhiên, hiệu quả của những cơ chế này vẫn cần được kiểm chứng.
Điều quan trọng nhất mình học được là việc ít đăng bài chưa chắc là vấn đề người dùng muốn giải quyết. Phỏng vấn khiến mình dừng hoặc giảm ưu tiên những hướng tưởng hợp lý, đồng thời chuyển từ một câu hỏi rộng về văn hóa sang các tình huống cụ thể để thiết kế. Nhu cầu cần được làm rõ trước khi đầu tư thêm vào giao diện.
Nếu tiếp tục, mình sẽ tìm hiểu người muốn đăng lấy gì làm mốc so sánh, chủ hồ sơ muốn được ai tìm thấy và nhà tuyển dụng cần thông tin nào. Từ đó mới chuẩn bị prototype và kiểm thử các lựa chọn tương tác. Mức độ sử dụng cần được xem cùng giá trị người dùng nhận được và cảm giác thoải mái khi tham gia.
Chi tiết bổ sung
Hướng “Bắt đầu bằng tương tác” dừng ở mô tả
Mình từng cân nhắc dùng bình chọn, lượt thích hoặc bình luận làm điểm bắt đầu cho người hiếm khi sử dụng LinkedIn. Hướng này dừng ở mô tả vì chưa làm rõ được giá trị khác biệt với tính năng sẵn có, cách tiếp cận người ít mở ứng dụng và lý do đủ hấp dẫn để họ quay lại.
Một phần câu hỏi liên quan tới việc cung cấp nội dung phù hợp khi người dùng có ít lịch sử tương tác. Bài viết kỹ thuật về bảng tin LinkedIn mô tả cách dùng thông tin hồ sơ để suy ra sở thích của thành viên mới.¹¹ Nguồn này giúp đối chiếu cách nền tảng xử lý thiếu dữ liệu, nhưng chưa trả lời điều gì khiến người ít sử dụng muốn quay lại. Bình chọn hoặc thích bài cũng chưa có nghĩa họ sẽ muốn chuyển sang đăng bài.
Kế hoạch kiểm chứng nếu tiếp tục
Bước | Trọng tâm | Quyết định cần hỗ trợ |
|---|---|---|
Làm rõ nhu cầu | Mốc so sánh của người muốn đăng; người chủ hồ sơ muốn tiếp cận; thông tin nhà tuyển dụng cần. | Có tiếp tục đầu tư vào từng concept hay không. |
Kiểm thử prototype Đổi mốc so sánh | Mức tương đồng, độ tin cậy, cảm giác bị thúc ép và khả năng tìm cách tắt. | Cách chọn ví dụ, câu chữ, thời điểm xuất hiện và quyền từ chối. |
Kiểm thử prototype Explore ở cả hai phía | Hiểu đúng về phân phối; tìm được nội dung hữu ích và biết bước liên hệ tiếp theo. | Luồng bật/tắt, loại nội dung ưu tiên và hành động ở màn chi tiết. |
Thử nghiệm hành vi trong phạm vi giới hạn | Giá trị sử dụng và mức khó chịu nếu các bước trước cho thấy đáng tiếp tục. | Mở rộng thử nghiệm, điều chỉnh hoặc dừng. |
Nếu so sánh các phiên bản thẻ, cần có nhóm không nhận gợi ý để đối chiếu. Với Explore, cần theo dõi cả lựa chọn bật/tắt của chủ hồ sơ lẫn mức hữu ích của nội dung và liên hệ đối với người đọc. Hiện chưa có căn cứ để đặt mức tăng mục tiêu hoặc ngưỡng thành công bằng số.
Phần còn nằm ngoài phạm vi
Hai concept chưa giải quyết việc duy trì đăng bài, cảm giác sau khi đăng hoặc áp lực từ mức tương tác thấp. Việc mở rộng cách người dùng hiểu thế nào là một bài đăng phù hợp cũng chưa có concept riêng. Những câu hỏi này sẽ cần nghiên cứu thêm nếu dự án tiếp tục.
Tài liệu tham khảo
Danh mục gồm các nguồn được dẫn trong bài và tài liệu nền (6–9). Nội dung học thuật được diễn giải, không trích nguyên văn; riêng nguồn 4 và 9 chỉ sử dụng phần tóm tắt. Các nguồn bổ sung khi biên tập hỗ trợ diễn giải, không được tính là hoạt động nghiên cứu người dùng. Tư liệu phỏng vấn và cộng đồng dựa trên ghi chép của dự án, không công bố danh tính.
[1] Pham, T. H. N. (2014). How do the Vietnamese lose face? Understanding the concept of face through self-reported, face loss incidents. International Journal of Language and Linguistics, 2(3), 223–231. https://doi.org/10.11648/j.ijll.20140203.21
[2] Dang, T. (2025). Between worlds, between selves: Comparative self-presentation under social expectation uncertainty among U.S. students and Vietnamese international students [Luận văn thạc sĩ, University of Texas at Arlington]. MavMatrix. https://mavmatrix.uta.edu/communication_theses/67/
[3] Enhance your profile's About section with LinkedIn’s Profile Writing Assistance | LinkedIn Help.
[4] Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing cultures: The Hofstede model in context. Online Readings in Psychology and Culture, 2(1). https://doi.org/10.9707/2307-0919.1014
[5] Akaliyski, P., Vignoles, V. L., Welzel, C., & Minkov, M. (2026). Individualism–collectivism: Reconstructing Hofstede’s dimension of cultural differences. Journal of Personality and Social Psychology, 130(2), 308–356. https://doi.org/10.1037/pspp0000580
[6] Next Generation Vietnam | British Council (2020).
[7] Ogihara, Y. (2017). Temporal changes in individualism and their ramification in Japan: Rising individualism and conflicts with persisting collectivism. Frontiers in Psychology, 8, Article 695. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2017.00695
[8] Deschacht, N., & Maes, B. (2017). Cross-cultural differences in self-promotion: A study of self-citations in management journals. Journal of Occupational and Organizational Psychology, 90(1), 77–94. https://doi.org/10.1111/joop.12162
[9] Lin, S.-P., & Le, S.-T. (2019). Predictors and outcomes of Vietnamese university graduates’ networking behavior as job seekers. Social Behavior and Personality: An International Journal, 47(10), e8379. https://doi.org/10.2224/sbp.8379
[10] Annual report 2025 | Microsoft (2025).
[11] Engineering the next generation of LinkedIn’s Feed | LinkedIn Engineering (2026).

Trung Nguyên
Tác giả
Cảm ơn bạn đã dành thời gian đọc qua case study này. Và nếu bạn có đọc cả những phần “Chi tiết bổ sung”, mình xin cảm ơn một lần nữa <3.
Mình rất muốn biết thêm về trải nghiệm của bạn với LinkedIn cũng như bất kỳ câu hỏi hay góp ý nào về dự án.